"Rầm rầm", một tiếng động có phần chói tai vang lên, cánh cửa cuốn đang từ từ hạ xuống. Mộ Nam nhìn qua gương chiếu hậu của chiếc xe tải nhỏ, thấy cửa cuốn đã chạm đất hoàn toàn, lúc này mới đạp ga. Cậu lái chiếc xe tải nhỏ với những thùng hàng trống rời khỏi nhà kho cũng đã trống rỗng. Số hàng hóa vốn được vận chuyển tới kho, nhờ có chiếc xe tải làm bình phong che mắt, đều đã được Mộ Nam thu hết vào trong không gian nhỏ của mình.
Mộ Nam có một bí mật. Bí mật này được cậu phát hiện vào năm mười sáu tuổi. Cậu có một không gian, một thứ đột nhiên xuất hiện trên cơ thể, giống như một thế giới khác tồn tại trong chiều không gian tư duy tinh thần của mình. Đến tận bây giờ cậu vẫn không rõ không gian này rộng lớn bao nhiêu, nhưng bất kể cậu có bỏ bao nhiêu đồ đạc vào thì nó cũng chưa từng đầy; có điều, ngoài chức năng lưu trữ này ra, không gian của cậu không thể chứa bất kỳ sinh vật sống nào.
Việc đột nhiên có thêm một không gian quả thực đã khiến Mộ Nam hồi đó vừa hoang mang vừa phấn khích suốt một thời gian. Sự tồn tại vượt xa nhận thức khoa học này, đối với một thiếu niên đang trong giai đoạn hình thành thế giới quan mà nói, không nghi ngờ gì là vô cùng mới mẻ và tràn đầy huyền bí, thậm chí còn khiến cậu cảm thấy bản thân mình, giữa muôn vàn chúng sinh, là một người đặc biệt khác thường.
Thế nhưng cái ham muốn khám phá và sự phấn khích đó cũng nhanh chóng lắng xuống. Bởi vì Mộ Nam phát hiện ra rằng, việc sở hữu một không gian có vẻ thần bí như vậy dường như chẳng mang lại mấy sự thay đổi cho cuộc sống của cậu. Ngoại trừ những lúc lén lút tránh mắt người khác để cất giấu đồ đạc tiện lợi hơn một chút, thì dựa trên tiền đề thượng tôn pháp luật, cậu không cách nào dùng không gian này để đem lại cho bản thân bất kỳ lợi ích tài chính nào.
Thế là dần dà, Mộ Nam không còn quá canh cánh chuyện không gian nữa. Thi thoảng cậu mới lén mượn không gian để mang lại chút tiện lợi nhỏ cho cuộc sống, còn những lúc khác, cậu vẫn sống những ngày tháng như bình thường.
Cho đến năm Mộ Nam tốt nghiệp đại học, kế hoạch tương lai cho cuộc đời cậu hoàn toàn bị những trận thiên tai liên tiếp đập tan. Và cái không gian bình thường tưởng như chẳng có mấy tác dụng này, lại trở thành chiếc phao cứu sinh lớn nhất mà cậu sở hữu.
Lúc đầu, chẳng ai ngờ nổi một trận mưa bão, một đợt sương mù ô nhiễm lại có thể làm xáo trộn cả thế giới. Những năm qua chất lượng không khí ngày một đi xuống là điều ai nấy đều biết rõ. Người người đều hô vang khẩu hiệu bảo vệ môi trường, bảo vệ trái đất, nhưng người người cũng đều đang làm những việc lãng phí đủ loại tài nguyên.
Sương mù ô nhiễm ập đến quá đỗi đột ngột. Ngoại trừ việc người đeo khẩu trang trên đường ngày một đông ra thì cuộc sống của mọi người không bị ảnh hưởng quá nhiều. Về sau, số người mắc bệnh ngày càng đông, họ bị ho sốt, da dẻ mẩn đỏ sưng tấy, nhãn cầu xung huyết, đến cuối cùng thì phổi sưng to, khó thở rồi dẫn đến tử vong.
Ngày càng có nhiều người bỏ mạng vì những triệu chứng giống nhau, không chỉ trong nước mà gần như tất cả các quốc gia xuất hiện sương mù ô nhiễm đều như vậy. Dù biết rõ căn nguyên của trận dịch bệnh này nằm ở chính làn sương mù kia, nhưng sức người đổ vào đó, ngoài việc không ngừng giành giật lại những sinh mạng đang dần vụt tắt, thì gần như chẳng thể làm được gì khác. Mà căn bệnh sưng phổi do sương mù ô nhiễm gây ra dù tính lây nhiễm không cao, nhưng tỷ lệ tử vong lại vô cùng đáng sợ, coi như mở màn cho thời tận thế đầy chết chóc.
Số người mắc bệnh quá nhiều, nhiều đến mức toàn bộ hệ thống y tế trực tiếp sụp đổ. Giữa các quốc gia, các thành phố không có khái niệm chi viện giúp đỡ lẫn nhau, bởi vì bản thân nơi nào cũng đã ốc không mang nổi mình ốc. Trận hỗn loạn đó chính là điểm khởi đầu của ngày tận thế.
Thời điểm đó Mộ Nam chưa từng nghĩ thế giới có ngày sẽ hoàn toàn hỗn loạn lên như vậy. Cậu tin tưởng vào sức mạnh của đất nước, cũng tin vào những lời kêu gọi, cổ động tiếp thêm sức mạnh mỗi ngày trên tivi, trên mạng internet, rằng tai họa rồi cũng sẽ qua đi thôi. Điều cốt lõi là, một Mộ Nam cô độc một mình không hề có sự cảm nhận sâu sắc về nỗi đau mất đi người thân trong trận tai họa này, dù cho những tai họa đó ở ngay sát cạnh cậu, nhưng xem chừng cũng lại rất xa xôi.
Mộ Nam là một họa sĩ tự do. Vì yêu thích vẽ tranh nên từ thời cấp ba cậu đã quyết định xong xuôi hướng đi cho tương lai của mình. Và ở khía cạnh hội họa, Mộ Nam quả thực có thiên phú. Còn chưa vào đại học, cậu đã có thể biến sở thích này thành cái nghề gánh vác được sinh kế cho bản thân. Trước khi vào đại học, một bức tranh vẽ thiết kế nhân vật của cậu thậm chí còn bán được với mức giá năm sáu chục nghìn tệ, đây trong giới họa sĩ của họ đã được coi là khá khẩm rồi.
Chính vì cái nghề có thuộc tính ru rú trong nhà này mà suốt cả đợt sương mù ô nhiễm, dù cậu có đóng chặt cửa không ra ngoài thì cũng chẳng bị ảnh hưởng bao nhiêu. Cũng chính vì cái nghề này mà từ ngày xưa cậu đã hình thành thói quen cứ có món gì ngon là lại tiện tay tích trữ vào trong không gian, để thuận tiện cho việc lúc nào thèm là có thể lấy ra ăn ngay lập tức. Không gian của cậu được coi là một sự tồn tại bất biến, đồ đạc bỏ vào ra sao thì lấy ra vẫn nguyên vẹn như vậy. Qua mấy năm tích lũy, lượng thức ăn trong không gian của Mộ Nam đã vô cùng khổng lồ. Vì ngay từ đầu chưa từng phải nếm trải khủng hoảng thiếu thốn thức ăn, nên mới dẫn đến việc kiếp trước Mộ Nam phải bỏ mạng vì chính tai họa do thức ăn mang lại.