Mọi người nhàn nhã trò chuyện, dần dần mặt trời lặn, ánh chiều đỏ rực kéo bóng người dài ra.
Ngôi làng yên tĩnh, chẳng biết từ lúc nào lại rộn ràng lên.
Triệu thẩm tới thu lại rổ, cười hề hề nói: “Rảnh thì ra cái cối xay ngoài làng chơi, mọi người đều ở đó, suốt ngày ru rú trong nhà làm gì?”
Cao Tú chống gậy đứng dậy, đáp lời: “Nhà bọn ta bị biếm về quê nhà, lúc đầu vẫn nên yên phận thì hơn, tránh… Sinh chuyện. Hàng xóm nói vài câu thì không sao, nhưng ngày nào cũng tụ tập đông người, e là không ổn.”
Vì thế, họ cứ lặng lẽ sống cuộc sống của mình.
Còn chuyện bươn chải kiếm tiền, vốn dĩ là điều hiển nhiên.
Hoàng đế cũng chẳng quản được nhiều đến thế.
Triệu thẩm rất hiểu chuyện, gật đầu hạ giọng nói: “Có việc gì không tiện làm, các người cứ đến tìm chúng ta. Năm đó nếu không có Tống Thủ phụ, cả nhà ta đã chết sớm rồi. Làm người thì phải biết nhớ ơn báo đáp.”
Cao Tú nghe mà thấy chua xót trong lòng.
Dân đen trăm họ còn biết ơn nghĩa, vậy mà lại có kẻ không biết.
“Ừ, sau này còn nhiều việc phải phiền đến thẩm.” Cao Tú đã cao tuổi, lại từng bị giày vò trong ngục, tinh thần sa sút một thời gian, may nhờ có linh tuyềnmới dưỡng lại được.
Tống Miên nhìn bà ấy khỏe mạnh sống lâu, nàng bỗng cảm thấy, có lẽ mình cũng sẽ trường thọ, nhà này có gen ấy.
Lúc này Triệu thẩm mới nâng giọng, cười nói: “Thằng bé Trì ca nhi nhà các người ngoan thật, y phục lúc nào cũng sạch sẽ, chẳng giống mấy con khỉ bùn nhà ta, đúng là khiến người ta ngưỡng mộ.”
Bà ấy nói thêm vài câu khách sáo rồi lại dặn thêm, nói ngày mai trong nhà có hỷ sự, mời cả nhà họ sang chung vui.
Cao Tú tiếc nuối nắm tay bà ấy, trước tiên là chúc trăm năm hạnh phúc, sớm sinh quý tử, sau mới nói sẽ gửi lễ mừng, nhưng người thì thật sự không tiện đến.
“Nhà bọn ta… Hai tháng nay mất hơn chục mạng người, chỉ dùng quan tài mỏng mà chôn, ngay cả linh đường cũng không được lập. Dù nhà bọn ta chưa mang tang, nhưng rốt cuộc vẫn không thích hợp đi dự việc vui của các vị, mong thẩm thông cảm.”
Văn Lan cũng vội vàng xin lỗi.
Triệu thẩm thở dài, xót xa nói: “Tai bay vạ gió cả thôi. Vậy các vị đừng bận tâm, cũng không cần gửi lễ. Nhà ta người đông, sang năm lại có người cưới hỏi, khi đó tính sau.”
Bà ấy định rời đi thì Tống Phó Tuyết lại gọi với theo, cười nói: “Ta dự định sau tiết Lập Thu, khi trời mát hơn một chút, sẽ mở một lớp tư thục nhỏ dạy vỡ lòng, nhận vài chục học trò, dạy Tam Tự Kinh, Bách Gia Tính, Thiên Tự Văn. Học phí thì lấy theo mặt bằng quanh đây. Phiền Triệu tẩu giúp ta tìm học trò.”
Ông không tiện qua lại nơi đông người, nhưng Triệu thẩm là người có tính tình cởi mở, lại có quan hệ tốt với mọi người trong thôn, nhờ bà ấy giúp đỡ thì dễ làm việc hơn.
Mắt Triệu thẩm sáng lên, bà ấy cười hớn hở: “Nhà ta có ba thằng nhóc! Đến lúc đó đưa sang cho phu tử chọn! Còn những đứa khác thì để ta lo liệu cho.”
Tống Phó Tuyết gật đầu.
Giờ ông cũng chỉ có thể làm những việc như dạy học, chép sách.
“Ta là Trạng nguyên năm Thuận Đức thứ tám, đệ đệ ta là Giải nguyên năm thứ chín, tuy đại nhi tử của ta mới mười tuổi nhưng đã vượt qua kỳ thi huyện, hoàn toàn có thể dạy được.” Tống Phó Tuyết nói rõ về “đội ngũ” nhà mình.
Triệu thẩm liên tục gật đầu, cười nói: “Ai mà chẳng biết! Vinh quang của nhà họ Tống, trong cả thôn Tống gia này ai mà không ai! Tống phu tử cứ yên tâm, chỉ cần treo cái tên này lên là dễ làm việc lắm.”
Đó là Trạng nguyên đấy!
Triệu thẩm có được sự đảm bảo, lúc này mới xách giỏ rời đi.
Chỉ một lát sau, bà ấy đã dẫn ba đứa cháu trai lớn của mình sang, nói là cho Tống phu tử chọn trước, ông chọn trúng đứa nào thì là đứa đó.
Ở thời đại này, trẻ chưa lớn thường được đặt tên xấu cho dễ nuôi; đến lúc bọn chúng thành thân hay gánh vác việc nhà mới nhờ tú tài trong thôn đặt tên chính thức. Hiển nhiên là mấy đứa trẻ này vẫn chưa đến lúc ấy.