Phạn Hành

Chương 31: Hư Thực

Trước Sau

break

Chuyển ngữ: Shy

-

Lúc này, một tăng nhân bước lên đài, phát cho họ một mảnh gỗ, trên đó viết chủ đề biện luận lần này.

Biện kinh chính thức bắt đầu.

Pháp Hiển lên tiếng đáp biện trước, giọng nói của hắn bình tĩnh, trầm ổn và rất có sức xuyên thấu, nửa hội trường đều có thể nghe thấy.

Đây là nội lực truyền âm, có thể khiến âm thanh vang cao và truyền đi xa hơn, phàm là người tu tập nội công tâm pháp đều biết chiêu này.

Đợi hắn nói xong, Già Diệp Ma Đằng cũng lên tiếng đối đáp, giọng nói hồn hậu trong trẻo vang dội lọt vào tai, có thể thấy được hắn ta cũng từng tu tập nội công.

Tiếng Phạn ngữ của hai người vang vọng khắp hội trường, cùng trong trẻo và xa xăm như nhau, trong âm sắc có một loại vần điệu tĩnh lặng độc đáo.

Hoa Thiên Ngộ nghe không hiểu bọn họ đang lầm rầm cái gì, cũng chẳng có phụ đề, chỉ đành nhìn sự thay đổi thần thái của họ, chẳng khác nào xem kịch câm.

Ban đầu biểu cảm của cả hai đều rất ung dung. Theo thời gian trôi qua, nội dung biện luận ngày càng sâu sắc, Pháp Hiển thay đổi tốc độ nói không nhanh không chậm thường ngày, hắn nói nhanh hơn rất nhiều, ngoại trừ lúc đối phương đáp biện, hầu như không thấy miệng hắn dừng lại.

Biểu cảm của Già Diệp Ma Đằng dần trở nên ngưng trọng, tốc độ nói cũng không hề chậm đi chút.

Hoa Thiên Ngộ hỏi Thường Tuệ: “Chủ đề biện kinh lần này là gì?”

“Hư và Thực.” Hắn ta dừng một chút, lại nói: “Sư thúc biện Thực, pháp sư Già Diệp Ma Đằng biện Hư.”

Phạm vi thảo luận của đề tài này rất lớn. Bề ngoài rất dễ phân biệt hư và thực, nhưng dùng trong thảo luận Phật pháp thì lại khó nói rõ ràng. Dù sao Phật pháp là ngươi tin thì là thực, ngươi không tin thì là hư.

Hai người đều tin Phật thì làm sao thảo luận ra nào hư nào thực đây?

Hoa Thiên Ngộ tò mò nhìn hai người môi súng miệng kiếm không ngừng nghỉ, quay sang hỏi Thường Tuệ: “Vậy họ đang biện cái gì?”

Trên đài cao, tốc độ nói của hai người đều rất nhanh, Thường Tuệ cũng không tiện thuật lại nguyên văn cho Hoa Thiên Ngộ, nên tóm tắt:

“Già Diệp Ma Đằng nói: Tất cả các pháp đều như huyễn, nếu chúng sinh biết là như huyễn thì sẽ không ‘vọng nhận tứ đại là tướng của thân mình, sáu trần duyên ảnh là tướng của tâm mình’.”

“Như thế, nếu thân tâm cũng là huyễn, vậy làm sao có thể dùng thân tâm như huyễn để tu cái không hoa như huyễn, vô minh như huyễn đây?”

“Sư thúc nói: Nếu tu như huyễn, diệt tất cả huyễn, vậy thì thân tâm chúng sinh cũng diệt, như vậy ai là người tu diệt huyễn? Hơn nữa sao có thể nói tu hành như huyễn?”

“Già Diệp Ma Đằng nói: Nếu chúng sinh không tu hành, chỉ trụ trong cảnh huyễn hóa sinh tử, cũng không biết đây là cảnh giới như huyễn, vậy thì cái vọng tưởng tâm này làm sao có thể được giải thoát?”

“Sư thúc nói: Tất cả chúng sinh, đủ loại huyễn hóa, đều sinh ra Như Lai Viên Giác Diệu Tâm, giống như hoa đốm giữa hư không, từ không mà có… Hoa huyễn tuy diệt, không tính chẳng hoại, huyễn tâm chúng sinh, còn nương huyễn diệt… Nếu nói có giác, thì vẫn chưa lìa huyễn, nói không giác, cũng lại như thế, cho nên huyễn diệt, gọi là bất động.”

“Già Diệp Ma Đằng nói…”

Mẹ kiếp! Đây là cái quỷ gì vậy.

Hoa Thiên Ngộ nghe mà ngây người, nàng không hiểu một câu nào hết.

Nàng vốn định bảo Thường Tuệ giải thích cho nàng xem lời này có ý gì, nhưng âm thanh bên tai dần dần nhỏ đi cho đến khi hoàn toàn biến mất.

Nàng nghiêng đầu nhìn, thấy Thường Tuệ tập trung tinh thần nhìn chằm chằm trên đài, hắn ta đã quên mất phải nói chuyện rồi, nàng lại nhìn quanh bốn phía, thấy mọi người đều nghe vô cùng nghiêm túc, ngay cả thở mạnh cũng không dám.

Chẳng lẽ chỉ có một mình nàng là nghe không hiểu gì sao?

Khóe mắt nàng giật giật, nàng im lặng, không hỏi nữa.

Cứ thế ngươi tới ta đi, nói suốt nửa canh giờ mà vẫn chưa kết thúc. Nghe trong thời gian lâu, Hoa Thiên Ngộ bắt đầu đau đầu buồn ngủ.

Ngay lúc nàng đang mơ màng sắp ngủ, tiếng chuông gõ vang dội trang nghiêm vang lên, đại hội kết thúc.

Hoa Thiên Ngộ lập tức tỉnh táo lại, nàng vội vàng hỏi: “Ai thắng? Ai thắng?”

Thường Ngộ và Thường Tuệ cười tươi rói, đồng thanh nói: “Sư thúc thắng rồi.”

“Tốt quá, quả nhiên sư thúc lợi hại.”

“Tốt quá, tài bảo của ta.”

”…”

Hai người đồng loạt nhìn về phía Hoa Thiên Ngộ, trên mặt là biểu cảm khó nói nên lời.

Ánh mắt của Hoa Thiên Ngộ hướng về phía đài cao, hai vị tăng nhân đang thi lễ với nhau. Già Diệp Ma Đằng tuy thất bại nhưng trên mặt không hề có vẻ nản lòng, ánh mắt nhìn Pháp Hiển lộ ra vài phần tán thưởng, rất xem trọng hắn.

Chỉ có thể nói cao tăng không hổ là cao tăng, người ta thật sự không để ý đến thắng thua.

Vương Quy Tư ngồi ngay ngắn ở vị trí cao không ngừng vỗ tay khen hay, vẻ mặt kích động, trên mặt cũng hơi ửng hồng.

Ông vốn là tín đồ cửa Phật, nghe được một trận biện luận Phật pháp tinh thâm như vậy, tự nhiên là kích động không gì sánh được.

Tăng nhân Tây Vực thi lễ với vương Quy Tư, vương Quy Tư cũng tán thưởng hắn ta vài câu, tăng nhân kia tạ ơn xong thì đi xuống đài cao.

Quả nhiên vương Quy Tư vô cùng hào phóng, ban thưởng mấy rương châu báu ngay tại chỗ. Nhìn từng rương từng rương được vệ binh khiêng ra, mắt Hoa Thiên Ngộ sáng rực lên.

Trong này có một phần của nàng nè. Tuy nàng không để ý những vật dung tục này, nhưng từ khi không làm Thánh Nữ nữa, tiền của nàng cũng tiêu hết rồi, tự nhiên cần phải tích trữ thêm chút tiền.

Đây tương đương với nhặt được của hời, nàng có thể không vui sao?

“Vương, bần tăng không cần những vật ngoài thân này.”

Giọng nói thanh đạm của Pháp Hiển truyền vào tai Hoa Thiên Ngộ.

Lập tức, Hoa Thiên Ngộ trừng lớn mắt, vẻ mặt khiếp sợ nhìn bóng lưng Pháp Hiển.

Nàng hận không thể lao lên bịt miệng hắn lại. Tên hòa thượng chết tiệt này bị điên à, cho tiền mà cũng không lấy.

Vương Quy Tư mỉm cười nhìn hắn, thân thiết hỏi: “Vậy pháp sư muốn ban thưởng gì?”

“Ba người bần tăng đến Tây Vực, vốn là vì cầu lấy kinh thư mà đến, nghe nói Phật pháp ở nước Quy Tư hưng thịnh, tàng kinh rất nhiều nên đến nơi này lấy chút kinh văn về Trung Nguyên.”

Vương Quy Tư nghe xong, cười vài tiếng, sảng khoái nói: “Việc này có gì khó, pháp sư có thể đến Vương tự của ta, kinh thư trong đó pháp sư có thể tùy ý lấy xem, sao chép.”

Pháp Hiển nghe xong, lộ ra một nụ cười ôn hòa, nhưng lại uyển chuyển từ chối: “Đa tạ Vương hậu ái, Phật tự trong Vương Thành là đủ rồi, không dám cầu xa tiến vào Vương tự.”

Nghe cuộc đối thoại của bọn họ, Hoa Thiên Ngộ cười lạnh một tiếng.

Hòa thượng này cũng khá thông minh, không bị hư vinh bề ngoài làm mê hoặc. Vương tự vào thì dễ, muốn ra lại khó, dù sao nhìn ánh mắt vương Quy Tư, e là không nỡ để một cao tăng như vậy rời đi.

Vương Quy Tư nghe vậy, nụ cười trên mặt nhạt đi vài phần. Ông trầm ngâm một lát, cuối cùng vẫn chuẩn thuận ý của Pháp Hiển, đồng thời không thu hồi mấy rương châu báu kia.

Hoa Thiên Ngộ lại vui vẻ trở lại. Vốn định đợi kết thúc giải tán, nàng sẽ đi đòi phần tài vật thuộc về mình, kết quả vương Quy Tư cứ lôi kéo ba người Pháp Hiển, lấy lý do ăn mừng đại hội thắng lợi để đưa về vương đình mở tiệc chúc mừng.

Nàng chỉ đành quay về trước, đợi ngày sau gặp lại.

Điều không ngờ tới là nhóm người Pháp Hiển cứ bị vương Quy Tư lấy danh nghĩa thỉnh giáo Phật pháp mà bị giữ lại vương đình tạm thời, cho nên mấy ngày tiếp theo vẫn chưa gặp được.

Khi nàng ra ngoài, nghe thấy trên đường bàn tán nhiều nhất chính là Đại hội Luận pháp mấy ngày trước và người giành chiến thắng cuối cùng là Pháp Hiển.

Nước Quy Tư Phật pháp hưng thịnh, đại bộ phận dân chúng đều tin Phật, trong Vương Thành cũng có rất nhiều tăng nhân nổi danh.

Pháp Hiển thế mà có thể thắng được tăng nhân lợi hại nhất trong nước Quy Tư, đủ thấy tạo nghệ trên Phật pháp của hắn thâm hậu đến mức nào.

Chỉ trong một ngày ngắn ngủi, thanh danh của Pháp Hiển đã truyền khắp cả Vương Thành, e rằng không bao lâu nữa, hắn sẽ vang danh Tây Vực.

Thời gian thấm thoắt trôi qua, đã đến đầu tháng bảy.

Lễ hội Tô Mạc Già mỗi năm một lần của Quy Tư sắp đến rồi.

Tô Mạc Già chính là lễ Khất Hàn, là lễ hội đặc thù của Tây Vực, tương tự như lễ Thất Tịch Khất Xảo của Trung Nguyên nhưng lại không giống nhau. Lễ Khất Xảo là cầu mong gặp được người hữu tình, còn lễ Khất Hàn của Tây Vực mang ngụ ý cầu mong mùa đông năm sau lạnh giá, trời giáng đại tuyết.

Nguyên nhân là do nơi này bốn mùa ít mưa, việc tưới tiêu cũng như nước dùng sinh hoạt đều dựa vào nước tuyết tan từ Thiên Sơn hội tụ thành sông theo mùa, cho nên mới có lễ Khất Hàn, cầu mong tuyết lớn giáng xuống, có nhiều nước tuyết tan hơn để canh tác ruộng đồng.

Lễ Khất Hàn là một lễ hội long trọng, từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc sẽ kéo dài tròn bảy ngày, vũ đạo, nhạc khúc, múa sư tử… Lần lượt lên sân khấu.

Nhạc khúc của nước Quy Tư là nổi danh nhất toàn bộ Tây Vực, cho nên mới có danh hiệu “Nhạc đô Quy Tư”.

Khi còn ở nước Dư Độc, nàng đã không chỉ một lần nghe nói vũ nhạc Quy Tư nổi tiếng thế nào, lần này rốt cuộc có thể tận mắt chứng kiến, cũng không uổng công nàng mạo hiểm ở lại nước Quy Tư.

break
Trước Sau

Báo lỗi chương