Máu dồn lên mặt. Nàng biết mình nên nhẫn nhịn, nên giả như không nghe thấy nhưng quả thực quá tức.
Thế là nàng nhét bọc bạc vào trong ngực, vén tấm rèm gấm bông thêu, mặt không đổi sắc bước ra.
Đám nha hoàn bà tử bỗng khựng lại.
Dẫu sau lưng có nói xấu người khác, bọn họ cũng không ngờ bị bắt quả tang như vậy. Dù thế nào, Cố Hy Ngôn vẫn là chính thất thiếu phu nhân có phong cáo, không cùng một hạng với đám nô tỳ bên dưới.
Cố Hy Ngôn đứng trên bậc thềm, ánh mắt nhàn nhạt lướt qua từng khuôn mặt những gương mặt đỏ xanh lẫn lộn, nụ cười gượng gạo đầy lúng túng.
Lần này đến lượt bọn họ bối rối.
Nàng khẽ cười một tiếng, thu lại ánh mắt, rồi quay sang Bình Nhi nói: “Ta vào thỉnh an lão phu nhân, bảo ngươi đứng đây chờ cho đàng hoàng. Ai cho ngươi rảnh rỗi mà buôn chuyện lắm mồm?”
Bình Nhi còn nhỏ, không hiểu, cúi đầu tủi thân muốn khóc.
Cố Hy Ngôn lạnh lùng nói: “Đừng tưởng mặc vàng đeo bạc rồi thật sự thành phu nhân, thành thiếu phu nhân. Dù người ta có nịnh nọt ngươi thế nào, chim sẻ cũng không hóa én vàng, cỏ đuôi chó chẳng nở được hoa mẫu đơn. Là phu nhân, thiếu phu nhân nâng đỡ ngươi, ngươi mới có ngày hôm nay, vậy mà không biết điều, đứng đây nói ba nói bốn, thật là cho ngươi mặt mũi quá rồi!”
Bình Nhi hoảng hốt, nước mắt sắp rơi.
Đám nha hoàn bà tử bên cạnh đương nhiên hiểu đây là mắng xéo, chỉ cây dâu mà chửi cây hòe. Nhưng vì vừa rồi chính miệng mình buông lời đàm tiếu, nay bị nghe thấy, đuối lý, dẫu mặt mày khó coi cũng không tiện cãi lại, chỉ đành đứng ngượng ngùng.
Cố Hy Ngôn khẽ nhón đầu ngón tay thon dài nâng một góc váy, với tư thế thong dong tao nhã bước xuống bậc thềm, ngẩng cao đầu rời đi, không ngoảnh lại.
Bình Nhi lau nước mắt, vội vàng đuổi theo.
Đám nha hoàn bà tử nhìn nhau, sắc mặt càng thêm khó coi nhưng cũng chẳng dám nói gì.
Cố Hy Ngôn lúc này bước rất nhanh, như có gió dưới chân. Chẳng mấy chốc đã ra khỏi cổng hoa rủ, đi vào vườn.
Gió lạnh đầu xuân thổi qua, nàng tỉnh táo lại, khí huyết đang sôi cũng dần lắng xuống.
Nàng biết mình vừa hả giận nhất thời, đã đắc tội người ta mà là đắc tội cả một mảng. Nhưng cũng chẳng còn cách nào. Vừa rồi thấy bọn họ buông lời đàm tiếu, giày xéo mình như vậy, nàng thực sự quá giận.
Giá như phu quân nàng còn sống, giá như dưới gối nàng có một mụn con thì cũng không đến nỗi rơi vào cảnh này.
Nhưng nàng không có chỗ dựa, cũng chẳng có gì cả. Hôm nay trút được cơn giận, sau này e sẽ phải đối mặt với nhiều phiền phức và lúng túng hơn.
Nghĩ đến đó, Cố Hy Ngôn dừng bước, đưa tay sờ bọc bạc trong ngực. Bọc bạc hơi cộm,nhưng nàng mơ hồ biết cũng chẳng được bao nhiêu.
Lúc ấy Bình Nhi hớt hải chạy theo kịp, vành mắt đỏ hoe, vẻ mặt vừa tủi thân vừa lo lắng.
Cố Hy Ngôn nói: “Lời vừa rồi vốn không phải mắng ngươi. Chỉ là người gặp đúng lúc thôi. Ta biết ngươi chịu ấm ức, đừng khóc nữa. Đợi về nhà, bảo Thu Tang tỷ tỷ lấy cho ngươi ít trái cây ăn.”
Bình Nhi ngẩn ra, rồi vội gật đầu, vừa lau nước mắt vừa nói: “Bình Nhi biết rồi, sau này không để ý đến họ nữa.”
Cố Hy Ngôn thấy tiểu nha hoàn vẫn chỉ là trẻ con, cũng không nói thêm, tiếp tục bước đi. Đến bên hồ, thấy phía trước có một đình nhỏ, cạnh đó cỏ nước rậm rạp, có thể che chắn.
Nàng dặn Bình Nhi: “Ngươi đứng đây, để ý người qua lại, canh chừng cho ta.”
Bình Nhi lập tức đáp: “Vâng, nô tì trông.”
Cố Hy Ngôn bước đến cạnh đình, mượn lan can và mái đình che khuất, rồi từ trong ngực lấy ra bọc bạc ấy.
Bạc được bọc trong một chiếc khăn tay lụa trắng, vẫn còn vương hơi ấm.
Cố Hy Ngôn mở ra xem.
Bên trong là những nén nguyên bảo nhỏ nhắn, tinh xảo hơn loại thường thấy ngoài chợ. Mặt trước khắc bốn chữ “Đại Chiêu Nguyên Bảo”, phía dưới đề dòng chữ nhỏ “Hồng Bình nhị thập nhất niên Ngân Tác Cục chế.”
Nàng ước lượng trong tay, biết mỗi nén chừng năm lượng. Sáu nén, vừa tròn ba mươi lượng bạc.
Từ ngày gả vào Uyên gia, nàng đã học được chút ít về việc chi tiêu sổ sách. Chỉ thoáng tính nhẩm trong lòng, đã hiểu rõ.
Ba mươi lượng… liệu có đủ thu xếp chỗ ở cho Mạnh Thư Huệ và hai đứa nhỏ?
Nếu chỉ tìm một chỗ tạm ở nơi kinh thành, có lẽ miễn cưỡng đủ. Nhưng sau đó thì sao?
Cơm áo hằng ngày của ba người phải lo thế nào? Đợi bọn trẻ lớn thêm, vẫn phải cho chúng theo học. Dẫu chẳng cầu đỗ đạt công danh, cũng phải biết đọc biết viết, biết tính sổ. Chẳng lẽ cứ để chúng cả đời không biết chữ?